Chuyển sang Bản Chữ Nổi của trang này. Về trang hướng dẫn chính.
Đến Với Phật Giáo
Trích đoạn đã được duyệt lại từ
Berzin, Alexander and Chodron, Thubten.
Glimpse of Reality.
Singapore: Amitabha Buddhist Centre, 1999.
Ngay từ lúc còn nhỏ, tôi đã có sự thích thú với nền văn hóa Á châu. Vào khoảng mười ba tuổi, tôi
đã bắt đầu tập hatha yoga (khống chế du già). Năm mười sáu tuổi, tôi vào trường Đại học Rutgers,
nơi tôi đã học ngành hóa học trong hai năm đầu. Tôi chọn môn Văn Minh Á châu làm môn học theo quyền
chọn lựa của tôi, và cảm thấy nó vô cùng thú vị. Trong một buổi học, khi vị giáo sư giảng về sự
truyền bá của Phật giáo từ quốc gia này sang quốc gia khác, quá trình thông dịch kinh điển và đạo
Phật đã thích ứng với các nền văn hóa khác nhau ra sao, điều này đã gây ấn tượng mạnh cho tôi ngay
tức thì. Đây là những điều tôi cần phải học hỏi sâu rộng hơn.
Khi trường Đại học Princeton mở chương trình mới về phân khoa Á Châu Học, tôi ghi tên và được
nhận vào nhóm Trung Hoa Học. Tôi vô cùng thích thú về cách Phật giáo đã lan truyền đến Trung Hoa ra
sao, đã chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa, rồi ngược lại, đã ảnh hưởng đến triết học của
nước này như thế nào. Tôi muốn học cách áp dụng Phật pháp vào cuộc sống hàng ngày. Khi theo học tại
Princeton, tôi đã không biết là gần đó có Geshe Wangyal, một vị Geshe người Mông Cổ Kalmyk đến từ
miền Volga của nước Nga, đang trụ trì tại một tu viện Tây Tạng-Mông Cổ đầu tiên tại Hoa Kỳ. Vì vậy,
tôi chỉ có thể phỏng đoán về cách suy nghĩ và xử thế theo giáo huấn của nhà Phật mà thôi.
Tôi vào Đại học Harvard vào năm 1965 để soạn luận án về Ngôn Ngữ Viễn Đông, với đề tài Triết
Học và Lịch Sử Trung Hoa thời Trung Cổ cho văn bằng Cao học. Sau năm đầu tiên, tôi quyết định phải
học tiếng Phạn (Sanskrit) và nghiên cứu sâu thêm về Phật giáo Ấn Độ, để tìm hiểu nó đã thâm nhập
vào Trung Hoa như thế nào. Vì thế, tôi bắt đầu học Phạn ngữ và triết học Ấn Độ. Trong văn bằng Tiến
sĩ của tôi, tôi đã kết hợp cả ba phân khoa là Ngôn Ngữ Viễn Đông, Phạn ngữ và Ấn Độ Học.
Trong lúc tôi bắt đầu học Tạng ngữ năm 1967 trong chương trình Phật học Ấn Độ, tôi được biết
về Geshe Wangyal và thường đến thăm Thầy mỗi khi tôi trở về New Jersey để thăm gia đình. Rất tiếc
là trường Đại Học Harvard quá xa, nên tôi không thể tu học với vị thầy đã mang lại nguồn cảm hứng
lớn lao cho tôi. Tuy vậy, đệ tử của ông là Robert Thurman, người Tây phương đầu tiên đã trở thành
tăng sĩ theo truyền thống Tây Tạng, cũng ở trong nhiều lớp học với tôi tại Harvard. Ông kể cho tôi
nghe về Đức Dalai Lama và cho biết truyền thống đạo Phật vẫn còn sinh động ở các trại tị nạn của
người Tây Tạng tại Ấn Độ. Ông cho tôi biết ông đã tu học tại Ấn Độ ra sao, và nếu tôi muốn, ông tin
rằng tôi cũng sẽ làm được như vậy. Không cần ông ấy thuyết phục thêm nữa, tôi đã nộp đơn xin học
bổng Fullbright đi Ấn Độ để làm luận án Tiến sĩ với những người Tây Tạng. Tôi nhận được học bổng
này và sang Ấn Độ năm 1969.
Tại Dharamsala, tôi đã gặp Đức Dalai Lama và nhiều vị trợ giáo của Ngài. Tôi rất cảm kích khi
thấy những gì họ tin tưởng và thực hành là sự thật. Phật học ở trường Đại Học Mỹ vào thập niên 60
chủ yếu là phân tích về lịch sử và ngôn ngữ trong các sách. Đó là môn học khô khan và dường như
chúng tôi học những gì đã có từ nhiều thế kỷ trước như những tôn giáo vào thời cổ Ai Cập, chứ không
phải hiện đại. Tuy nhiên, tại Ấn Độ, Phật giáo Tây Tạng hoàn toàn sinh động. Tôi không còn phải học
hỏi từ các vị học giả hàn lâm thiếu kinh nghiệm cá nhân về giáo pháp, mà được tu học với các vị
thầy tin sâu và hiểu rộng về giáo huấn của Đức Phật. Những giáo huấn này đã được truyền thừa một
cách liên tục từ thầy đến trò cho đến ngày nay. Tôi chỉ cần mở lòng ra để tu học với những vị thầy
cao cả. Đây là một điều khiến tôi vô cùng thích thú! Bấy giờ, ngoài việc chú trọng học hỏi việc
Phật giáo đã thay đổi như thế nào khi lan truyền từ nước này sang nước khác, tôi còn muốn biết thêm
đạo Phật như một triết lý sống và một tôn giáo để tu hành.
Tôi bắt đầu tu học với một lama cao cả (vị thầy tâm linh), Geshe Ngawang Dhargyey, để khảo
cứu cho dự án Tiến sĩ, đồng thời cũng bắt đầu nếp sống tu tập. Hai năm sau, Đức Dalai Lama xây dựng
Thư Viện Tác Phẩm và Văn Khố Tây Tạng (Library of Tibetan Works and Archives) tại Dharamsala và nhờ
thầy tôi giảng dạy những người ngoại quốc tại đó về triết lý đạo Phật và hành thiền. Ngài cũng nhờ
Sharpa Rinpoche và Khamlung Rinpoche, hai vị lama trẻ tuổi đã học Anh ngữ tại Hoa Kỳ làm các thông
dịch viên, dưới sự hướng dẫn của Geshe Wangyal, người đã cùng tôi dịch các tác phẩm của Đức Dalai
Lama. Tôi xin được cộng tác và Đức Dalai Lama bảo: “Được, nhưng trước hết, con hãy trở về Hoa Kỳ,
nộp luận án và lãnh văn bằng Tiến sĩ.”
Sau khi nộp luận án và được mời dạy tại trường Đại Học, tôi đã từ chối để trở lại Ấn Độ, tiếp
tục tu học với Geshe Dhargyey. Chúng tôi thông dịch thêm các bài viết, và khi tôi nói tiếng Tây
Tạng khá hơn, tôi bắt đầu làm thông dịch viên cho vị thầy chánh của tôi, Tsenzhab Serkong Rinpoche,
vị này là Đạo Sư Đối Tác Tranh Luận và Trợ Giáo của Đức Dalai Lama. Tôi làm thông dịch viên cho
Serkong Rinpoche trong hai chuyến hoằng pháp quốc tế của Ngài. Sau khi thầy tôi viên tịch năm 1983,
nhiều trung tâm Phật giáo tại một số quốc gia đã mời tôi đến viếng thăm và giảng dạy.
Từ khi tôi đến Ấn Độ, tôi rất ngạc nhiên, vì Phật giáo không những cống hiến những lời khuyên
thực tiễn trong đời sống hàng ngày, mà còn giải đáp được nhiều vấn đề tôi vẫn thắc mắc từ lâu nay
nhưng chưa tìm được câu trả lời. Những vấn đề như: “Tại sao cuộc sống của tôi như thế này? Tại sao
sự việc xảy ra trong đời tôi như vậy?” Sự giải thích về nghiệp trong đạo Phật đã trả lời tất cả
những thắc mắc ấy. Tôi cảm thấy phấn khởi, vì Phật pháp đã giúp tôi hiểu được nhiều điều mà tôi đã
trải qua trong đời mình. Hơn nữa, đạo Phật có một sự giải thích rõ ràng và hợp lý về tâm và sự vận
hành của tâm. Đồng thời, Phật pháp vô cùng hữu ích, vì khi ta thực hành những giáo pháp để hóa giải
những vấn đề trong đời sống hàng ngày, ta có thể thấy được kết quả hữu hiệu. Điều này cho tôi nhiều
cảm hứng, vì tôi đã tìm được chánh đạo hoàn toàn thích hợp cho tôi.
Trong việc thông dịch và giảng dạy, tôi cố áp dụng những điều mình đã học hỏi về đạo Phật và
sự lan truyền của Phật giáo giữa các nền văn hóa khác nhau. Việc nghiên cứu Phật học đã giúp tôi
nhận thức được những điều chúng ta cần thận trọng trong việc truyền đạt Phật giáo vào Tây phương và
các xã hội tân tiến. Nhờ có sự hiểu biết đạo Phật đã thích ứng ra sao trong mỗi một nền văn hóa mới
trong quá khứ, tôi hy vọng mình có thể giúp ích cho việc truyền đạt Phật pháp trong thế giới hiện
đại của chúng ta.